xk avene 300ml
XỊT KHOÁNG AVENE

Home » Hành Trình Mang Thai » 8 Hạng Mục Phải Kiểm Tra Khi Khám Thai

8 Hạng Mục Phải Kiểm Tra Khi Khám Thai

4.5 (90%) 2 votes

Mục đích kiểm tra trước khi sinh (khám thai)

Giảm bớt sự khó chịu về mặt tâm lý và sinh lý trong thời kỳ mang thai, dự phòng xảy ra các bệnh bội nhiễm, tăng cường sức khỏe của thai phụ và thai nhi.

Thời gian làm kiểm tra trước khi sinh (khám thai)

Không có kinh nguyệt hơn 2 tuần thì lập tức nên đến bệnh viện kiểm tra để xác định có mang thai hay không.

Lần khám thai thứ nhất tốt nhất là khi mang thai trước 3 tháng.

Khi mang thai trong vòng 28 tuần thì mỗi tháng phải khám thai 1lần. Khi mang thai trên 28 tuần đến 36 tuần thì mỗi nửa tháng khám thai 1 lần. Khi mang thai trên 36 tuần đến trước khi sinh thì mỗi tuần phải khám thai 1 lần.

Các hạng mục cần chú ý

Trong quá trình mà bạn mang thai, bất kể là khi đi khám thai thường lệ hoặc khi trong người khó chịu mà khi khám bệnh, thì đều phải đến Trạm hộ lý để đo trọng lượng và huyết áp, đồng thời báo cho y tá biết bạn đã đến.

Mỗi lần bạn đến khám thai đều cần phải lấy giấy xét nghiệm, sau khi thanh toán phí thì đến phòng xét nghiệm xét nghiệm nước tiểu và lấy máu.

Khi bạn mang thời giữa tuần thứ 9 đến tuần thứ 20, thì cần phải làm kiểm tra sàng lọc hội chứng Down ( Đao) dành cho thai phụ, lần kiểm tra này cần đến phòng khám trước để được bác sĩ cho siêu âm trước, và sau khi tính số tuần mang thai (và mức độ lớn nhỏ của thai nhi) , rồi mới đi thanh toán phí, lấy máu và xét nghiệm nước tiểu.

Nếu bạn sắp xếp làm những kiểm tra đặc biệt như kiểm tra sàng lọc bệnh tiểu đường khi mang thai hoặc kiểm tra siêu âm, thì xin hãy theo các trình tự kiểm tra như sau, để tiết kiệm thời gian quý báu của bạn. (a)

  • Kiểm tra sàng lọc bệnh tiểu đường khi mang thai:
    • Đến trạm hộ lý báo đã có mặt, đồng thời đo trọng lượng và huyết áp.
    • Làm xét nghiệm nước tiểu trước.
    • Xin chiếu theo sự hướng dẫn trên giấy kiểm tra, để bụng không hoặc sau khi uống nước đường 1 tiếng hoặc 2 tiếng sau thì đến phòng xét nghiệm lấy máu.
    • Đến phòng khám khám thai.
  • Kiểm tra siêu âm
    • Đến trạm hộ lý báo đã có mặt, đồng thời đo trọng lượng và huyết áp.
    • Đến Phòng siêu âm để được kiểm tra.
    • Đến phòng khám khám thai.

8 hạng mục kiểm tra thông thường

1. Trọng lượng

  • Đo trọng lượng để biết tình trạng tăng cân.
  • Trọng lượng tăng quá nhanh có thể bị phù, trọng lượng tăng quá nhiều thai nhi có thể quá lớn, trọng lượng tăng quá ít có thể thai nhi phát triển chậm.
  • Trong thời gian mang thai, trọng lượng của thai phụ nên dựa trên trọng lượng của thai phụ trước khi mang thai mà điều chỉnh, với trọng lượng tăng từ 10-14 kg là thích hợp, hơn nữa cần chú ý tốc độ tăng cân, trong thời gian mang thời không thích hợp giảm cân. Nếu trong thời gian mang thai và cho con bú bạn có vấn đề về mặt ăn uống thì xin bác sĩ hoặc chuyên gia dinh dưỡng tư vấn giúp đỡ.(Nguồn tư liệu: Sổ tay sức khỏe dành cho phụ nữ mang thai của Sở Sức khỏe toàn dân Bộ Phúc lợi Y tế Viện Hành chính )

2. Huyết áp

  • Khi mang thai huyết áp có thể thấp hơn một chút so với trước khi mang thai.
  • Khi mang thai trước 20 tuần, huyết áp cao hơn 140/90mmHg có thể là bị cao huyết áp mãn tính
  • Khi mang thai sau 20 tuần, huyết áp cao hơn 140/90mmHg có thể là bị cao huyết áp do mang thai, nếu có cộng thêm chứng prô-tê-in niệu hoặc bị phù thũng, thì là chứng tiền sản giật, nếu nghiêm trọng thì sẽ dẫn đến toàn thân bị co giật trở thành chứng sản giật, sẽ nguy hiểm đến tính mạng của người mẹ và thai nhi.
  • Khi huyết áp hơi cao thì nên nằm trên giường nghỉ ngơi, khi cần thiết thì nằm viện để được uống thuốc khống chế và khi thích hợp thì sinh nở.

3. Nhịp đập của tim thai nhi

  • Khi mang thai từ 6-8 tuần trở lên có thể thông qua siêu âm để nhìn thấy nhịp đập của tim thai.
  • Khi mang thai từ 10-12 tuần trở lên có thể thông qua bụng thai phụ để nghe nhịp tim của thai nhi.
  • Đo không được nhịp tim của thai nhi có thể do thai nhi nhỏ hơn so với số tuần dự đoán, vị trí của thai nhi hơi lệch, phôi thai chưa phát triển, hoặc thai bị chết trong bụng mẹ.
  • Khi mang thai trên 12 tuần mà nghe không được nhịp tim thai, thì nên làm siêu âm kiểm tra để xác định chẩn đoán.

4. Độ lớn nhỏ của tử cung

  • Đo khoảng cách liên kết giữa đáy tử cung và xương mu có thể tính được thai nhi lớn nhỏ.
  • Khi nghi ngờ thai nhi quá lớn hoặc quá nhỏ thì nên làm siêu âm để kiểm tra.

5. Vị trí thai

  • Kiểm tra vị trí đầu của thai nhi.
  • Khi nghi ngờ vị trí thai ngược, vì làm siêu âm kiểm tra.

6. Bị phù thũng

Chân bị phù là chuyện bình thường, nếu toàn thân bị phù (như thân hình, mặt), phải xem xét đến chứng tiền sản giật.

7. Đường trong nước tiểu

Đường trong nước tiểu thông thường hơi cao có thể là do sự hấp thụ đường glu-cô không tốt hoặc bị bệnh tiểu đường.

Có thể làm kiểm tra sàng lọc bệnh tiểu đường khi mang thai hoặc kiểm tra đường trong máu trước khi ăn cơm và sau khi ăn cơm.

8. Protein niệu (tiểu anbumin)

  • Protein niệu hơi cao có thể chức năng của thận không tốt.
  • Nếu lại có cao huyết áp thì là chứng tiền sản giật.

6 hạng mục khám thai đặc biệt

1. Kiểm tra sàng lọc bệnh thiếu máu Địa Trung Hải

– Khi mới có thai, nếu dung tích hồng huyết cầu nhỏ hơn 2.5l , thì có khả năng là mắc bệnh thiếu máu Địa Trung Hải hoặc máu thiếu chất sắt. Thai phụ và chồng cần phải đi làm xét nghiệm thêm. Nếu cả hai vợ chồng đều mang gen bệnh thiếu máu Địa Trung Hải thì thai nhi có 1/4 khả năng mắc bệnh thiếu máu Địa Trung Hải nặng, cần phải tiến hành kiểm tra thai nhi.

2. Kiểm tra sàng lọc bệnh Down ở thai phụ

a. Khi mang thai từ 9-13 tuần hoặc tuần 14-20 tuần lấy máu người mẹ làm kiểm tra sàng lọc bệnh Down thai kỳ thứ nhất và thai kỳ thứ hai.

b. Dựa trên số tuần mang thai, tuổi tác, trọng lượng để tính ra xác suấtbị bệnh Down của thai nhi.

c. Những phụ nữ có nguy cơ có thai nhi mắc bệnh cao thì cần phải làm siêu âm để kiểm tra, khi cần thiết thì lấy mẫu lông nhung màng đệm hoặc chọc dò nước ối để kiểm tra.

d. Kiểm tra sàng lọc trẻ bệnh Down, tỷ lệ kiểm soát ở thai kỳ thứ nhất đạt hiệu quả 80% -90%, ở thai kỳ thứ hai đạt hiệu quả 60%-75%.

3. Lấy mẫu lông nhung màng đệm hoặc kiểm tra chọc dò nước ối

a. Lấy mẫu lông nhung màng đệm thực hiện khi mang thai từ 11-13 tuần, chọc dò nước ối thực hiện khi mang thai 16-18 tuần.

b. Có thể kiểm tra nhiễm sắc thể của thai nhi, chẩn đoán các loại nhiễm sắc thể dị thường, ví dụ như bệnh Down.

c. Trường hợp phụ nữ trên 34 tuổi, từng mang thai với thai nhi có nhiễm sắc thể dị thường, những phụ nữ qua kiểm tra sàng lọc bệnh Down có nguy cơ mắc bệnh cao hoặc người cha người mẹ có nhiễm sắc thể dị thường, thì thai nhi có tỷ lệ nhiễm sắc thể dị thường cao, đề nghị nên làm kiểm tra chọc dò nước ối.

d. Kiểm tra chọc dò nước ối, đối với bản thân thai nhi không có gì nguy hại, chỉ có có chút xác suất dẫn đến sẩy thai (thấp hơn 1/1000).

4. Siêu âm kiểm tra sàng lọc thai nhi

a. Khi được 20-22 tuần, các cơ quan trong cơ thể thai nhi đã phát triển hoàn chỉnh và có thể nhìn thấy rõ ràng.
b. Kiểm tra hình thái của thai nhi và các cơ quan trong cơ thể có bình
thường không. Dùng dụng cụ máy quét siêu âm để kiểm tra thông qua bề mặt bụng của thai phụ.
c. Kiểm tra đại não tiểu não, cột sống, mặt, môi, tim, dạ dày, thận,
bàng quang, màng bụng, tứ chi, giới tính, huyết quản ở dây rốn, vị trí nhau thai và lượng nước ối v..v của thai nhi.
d. Nếu thai nhi có những dị thường nghiêm trọng có thể tính đến việc
chấm dứt việc mang thai trong vòng 24 tuần.
e. Với những thai nhi có khả nghi về nhiễm sắc thể dị thường có thể tiếp
nhận việc kiểm tra chọc dò nước ối hoặc kiểm tra máu cuống rốn.
f. Qua kiểm tra đo vòng đầu của thai nhi có thể tính được số tuần
mang thai một cách chính xác.

5. Kiểm tra sàng lọc bệnh tiểu đường khi mang thai

a. Từ 24-28 tuần lấy máu kiểm tra.
b. Có khoảng 1-3% thai phụ bị mắc chứng bệnh tiểu đường khi mang
thai, nếu không phát hiện thì có thể dẫn đến thai nhi quá to, thậm chí nguy hại đến thai nhi và người mẹ.
c. Kiểm tra sàng lọc này có thể kiểm tra được khi mang thai có khả năng bị bệnh tiểu đường không.

  1. Trong trường hợp không cần nhịn ăn, uống 50 gram nước đường glu-cô và sau 1 giờ đồng hồ, kiểm tra nồng độ đường trong máu, nếu nồng độ lớn hơn 140mg/dl, thì phải tiếp tục dung nạp thêm100gram đường glu-cô để tiến thêm bước làm thử nghiệm việc chịu đường glu-cô, rồí chẩn đoán xác định. Hoặc trực tiếp làm thử nghiệm chịu đường với 75 gram đường glu-cô: Sau khi nhịn ăn 8 giờ đồng hồ, bước đầu sẽ kiểm tra lượng đường trong máu khi bụng đói, tiếp theo đó là uống 75gram đường glu-cô sau 1 đến 2 giờ đồng hồ, sau đó thì đo nồng độ đường trong máu.(Tình hình chi tiết có thể hỏi bác sĩ)
  2. Khi xác định thai phụ mắc phải bệnh tiểu đường trong thời kỳ mang thai, thì chế độ ăn uống cần phải qua sự hướng dẫn của các chuyên viên dinh dưỡng, nếu đường trong máu vẫn còn cao thì cần tiếp nhận liệu pháp tiêm insulin.

6. Kiểm tra sàng lọc vi khuẩn liên cầu B ở thai phụ

a. Thai phụ mang thai đủ 35 tuần đến trước 38 tuần, cung cấp 1 lần kiểm tra vi khuẩn liên cầu B.

b. Vi khuẩn liên cầu B là vi khuẩn gây nhiễm trùng nghiêm trọng dẫn đến bị bệnh chủ yếu trong chu kỳ sinh sản.

c. Đối với thai phụ thì dễ dẫn đến sinh non, vỡ nước ối sớm, màng đệm màng nước ối bị viêm, bị nhiễm trùng sau khi sinh, cũng dễ dẫn đến việc trẻ sơ sinh bị nhiễm trùng.

d. Nếu kết quả kiểm tra là dương tính, thì bác sĩ sẽ tiến tới một bước đánh giá và trong khi chờ sinh nở thì sẽ cung cấp kháng sinh phòng ngừa để điều trị.